Nhân sâm là một thực vật. Dinh dưỡng Bổ sung được dẫn xuất Nhân sâm Mỹ (Panax quinquefolius) hoặc nhân sâm Châu Á (Panax ginseng) có thể bổ sung chất dinh dưỡng. Sâm Siberi (Eleutherococcus senticosus) là một chi khác và không chứa hoạt chất để bổ sung chất dinh dưỡng như 2 loài trên.

Nhân sâm có thể sử dụng dưới dạng rễ tươi, khô, chiết xuất, dung dịch, viên nang, viên nén, soda, trà hoặc được sử dụng làm mỹ phẩm. Nhân sâm Mỹ chứa hoạt chất là panaxosides (saponin glycosides). Nhân sâm châu Á chứa hoạt chất là ginsenosides (triterpenoid glycosides).
Nhiều sản phẩm từ nhân sâm chứa ít hoặc không chứa các hoạt chất đã biết. Trong một vài trường hợp, một số sản phẩm nhân sâm từ Châu Á đã trộn với thuốc phenylbutazone, thuốc aminopyrine hoặc rễ cây khoai ma, khi sử dụng có thể gây nôn. Hoa Kỳ đã loại sản phẩm này ra khỏi thị trường vì các tác dụng phụ.
Hơn ba nghìn nghiên cứu khoa học đã được tiến hành về nhân sâm
Bắt đầu từ năm 1949, khi một nhà nghiên cứu tên là Tiến sĩ Itskovity I. Brekhman bắt đầu tiến hành các nghiên cứu tại viện các chất có hoạt tính sinh học tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô ở Vladivostok, Nga. Ông đặc biệt quan tâm đến chất lượng dược phẩm của nhân sâm & đã thực hiện hàng trăm nghiên cứu về nhân sâm. Công việc của ông đánh dấu sự khởi đầu của quá trình khám phá nghiêm túc của y học hiện đại về khả năng chữa bệnh của nhân sâm. Nghiên cứu của ông cũng khuyến khích các nhà khoa học khác khám phá loại thảo mộc này & đã được được nhân rộng tại một số trường đại học, bao gồm Đại học Minnesota, Đại học Illinois và Đại học California tại Los Angeles.

Cho đến nay, hơn ba nghìn nghiên cứu khoa học đã được tiến hành về nhân sâm và các thành phần hoạt tính của nó. Trong khi nhiều nghiên cứu đã ghi nhận vô số lợi ích sức khỏe của loại thảo mộc này & các nghiên cứu vẫn đang tiếp tục.
Các hoạt chất có trong nhân sâm
Đến năm 1960 các nhà khoa học bắt đầu phân lập các hoạt chất có trong nhân sâm. Những gì họ phát hiện là các hợp chất được gọi là glycoside steroid, đây là những phân tử đường đặc biệt. Glycoside nhân sâm hình thành trong lá, hoa và vỏ ngoài lớp phủ của rễ, sau đó chúng được lưu trữ trong phần thịt của rễ. Khoảng 2 đến 6 % rễ khô có chứa glycoside.
Một nhà nghiên cứu Nhật Bản đã đặt ra thuật ngữ “ginsenoside” để mô tả những glycoside steriod này vào năm 1961. Glycoside cũng xuất hiện ở các loài thực vật khác, nhưng ginsenosides chỉ có ở sâm Panax. (Saponin là một lớp những chất có trong nhân sâm nhưng cũng có trong các loài cây khác, tuy nhiên nhóm các ginsenoside trong saponin thì chỉ có ở nhân sâm ).

Hơn hai mươi ginsenoside khác nhau đã được xác định. Chúng đã được đặt tên là Ra, Rb, Rc, v.v. để phân biệt chúng với nhau. Các loại ginsenosides khác nhau theo tỷ lệ khác nhau, tùy thuộc vào loại cây, nơi trồng, độ già, cách làm khô và chế biến, và một số các yếu tố khác. Rễ càng già thì hàm lượng ginsenosides càng lớn, điều này khiến khả năng chữa bệnh cao hơn – cũng như giá thành cao hơn. Một số ginsenoside mất năm hoặc sáu năm để phát triển, và một số thậm chí lâu hơn. Các ginsenoside khác nhau mang lại các đặc tính khác nhau. Việc tìm ra các hoạt chất trong nhân sâm cho phép giải thích làm thế nào mà một cây nhân sâm Canada có thể làm dịu và tĩnh lặng, trong khi nhân sâm châu Á có thể kích thích và gây hưng phấn. Một số ginsenosides đã được chứng minh là có tác dụng tăng cường sự săn chắc của cơ bắp, điều chỉnh lượng đường trong máu, ảnh hưởng đến tuyến thượng thận và nội tiết tố, đồng thời tăng cường trao đổi chất. Các hoạt động cụ thể của ginsenosides có thể là chìa khóa cho nhiều đặc tính chữa bệnh liên quan đến nhân sâm.
Ngoài ginsenosides, các nhà khoa học đã xác định được phenol (như maltol), polysaccharides (hợp chất đường giúp tăng cường khả năng miễn dịch), một nguyên liệu protein hỗ trợ quá trình chuyển hóa đường và chất béo, vitamin (bao gồm A, B và E), khoáng chất (bao gồm canxi, magiê và phốt pho), ancaloit, hợp chất sụn và các chất khác có thể mang lại một số lợi ích chữa bệnh. Mặc dù có thể cô lập một số thành phần riêng lẻ này, nhưng có khả năng hiệu quả của nhân sâm phụ thuộc vào tác dụng hiệp đồng của tất cả các thành phần này hoạt động cùng nhau.









